Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc

Tất cả các thuốc điều trị tăng huyết áp đều nhằm làm giảm cung lượng tim, đặc biệt là làm giãn các tiểu động mạch, giảm sức cản ngoại vi để làm giảm huyết áp. Chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số loại thuốc thường được sử dụng trong điều trị tăng huyết áp.

Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc

Thuốc lợi tiểu:

Là các thuốc được dùng đầu tiên và từ rất lâu, cho đến nay đây vẫn là một trong những loại thuốc hàng đầu trong việc điều trị tăng huyết áp, nó hay được dùng đơn độc hoặc kết hợp với một loại thuốc khác. Thuốc tác động ở thận làm tăng đào thải nước tiểu và natri, qua đó làm giảm thể tích dịch lưu hành, giảm được áp lực trong lòng động mạch, ngoài ra cìn tham gia làm cho giãn các tiểu động mạch nên hạ được huyêt áp. Thuốc lợi tiểu còn làm tăng được tác dụng của một số thuốc hạ huyết áp khác nhất là những thuốc can thiệp vào hệ giao cảm vì thuốc đó hay giữ được nước và natri nếu dùng được lâu dài. Thuốc lợi tiểu được dùng rất rộng rãi để kiểm soát những trường hợp cao huyết áp nhẹ.

Các thuốc thường dùng: Hypothiazid, Furosemid( Lasix, lasilix), Natrilix SR 1,5 mg, Aldacton 75mg.

Thuốc ức chế thụ thể giao cảm bêta:

Chẹn beta giúp làm chậm nhịp tim và giảm lực co bóp của cơ tim, do đó làm giảm áp lực do tim tạo ra. Được sử dụng thích hợp hơn ở những người bị bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hoặc có tiền sử nhồi máu, nhờ vậy họ cũng có thể phòng ngừa được cơn nhồi máu tái phát và đột tử. Do tác dụng làm giảm tính dẫn truyền trong tim, thuốc còn được dùng trong điều trị loạn nhịp tim.

Các thuốc: Carvedilol 12,5mg, metoprolol, atenolol, bisoprolol 5 mg

Tác dụng phụ cần chú ý: bồn chồn, hồi hộp, mệt mỏi, trầm cảm, liệt dương, ác mộng.

Thuốc ức chế thụ thể angiotensin II:

Loại thuốc này có tác dụng trên các thụ thể ở các mô phân bố khắp cơ thể giúp ngăn không cho angiotensin gắn vào chúng, do đó cũng ngăn ngừa tác dụng co cơ của angiotensin II.

Các thuốc: Losartan 25mg, Telmisartan 40mg, Valsartan, Candesartan, Irbesartan

Tác dụng phụ của thuốc ức chế thụ thể angiotensin ít hơn các thuốc ức chế men chuyển do ít gây ho hơn.

Thuốc chẹn kênh canxi :

Có tác dụng giãn cơ ở thành các động mạch. Ngoài ra còn có tác dụng làm giảm sức co bóp của tim. Các chất ức chế calci không chỉ làm giảm huyết áp mà còn chống co thắt mạch nên còn được dùng trong điều trị suy mạch vành.

Các thuốc: Nifedipine, Diltiazem, Verapamil, Nicarddipine, amlodipine, Felodipine.

Tác dụng phụ: phù mắt cá chân, mệt mỏi, nhức đầu, táo bón, đỏ mặt.

Thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin:

Thuốc ức chế men chuyển có tác dụng làm ngưng sản xuất angiotensin II, một chất hóa học có tác dụng rất mạnh làm co mạch, gây ra tăng huyết áp, đồng thời ngăn cản tuyến thượng thận không tiết ra aldosteron là một chất làm cho thận tăng tái hấp thu nước và natri đồng thời còn có tác dụng gữi cho bradykinin là một chất giãn mạch không bị thoái giáng để mất tác dụng, còn kích thích tăng tiết prostaglandin PGI2, PGE2 cũng có tác dụng giãn mạch và làm giảm huyết áp.

Các thuốc: Captopril, Enalapril, perindopril (Coversyl 4 mg), Lisinopril, Quinapril, Fosinopril.

Tác dụng phụ thường hiếm gặp nhưng đôi khi nó sẽ làm chức năng thận xấu đi và tăng lượng Kali trong máu, đặc biệt ở những bệnh nhân đã bị tổn thương thận. Ức chế men chuyển đôi khi còn gây ho khan và hiếm khi gặp phù mạch (phù nặng quanh khí quản).

Thuốc giãn mạch trực tiếp

Giúp giãn mạch làm cho máu chảy với áp lực thấp hơn. Những loại thuốc này được dùng qua đường tiêm tĩnh mạch ở cấp cứu (có nghĩa là dùng trong trường hợp bị cao huyết áp ác tính).

Các thuốc: Nitroprusside, Diazoxide. Thuốc uống bằng đường miệng là Hydralazine và minoxidil.

Ý kiến của bạn

*


*

Đọc bài viết trước
Cách xử lý khi bị huyết áp thấp

Điều quan trọng nhất đối với người bị huyết áp thấp là hiểu biết đúng về tình trạng bệnh của...

Đóng