Khái quát về bệnh sa trực tràng

 Khái quát về bệnh sa trực tràng Đại cương về bệnh Sa trực tràng:

Sa trực tràng là tình trạng bệnh lý mạn tính tại trực tràng và ống hậu môn khi một hoặc nhiều lớp của trực tràng, ống hậu môn sa ra ngoài hậu môn.

Bệnh gặp ở cả nam và nữ, ở mọi lứa tuổi, nhưng phần nhiều thấy ở trẻ em và người già, phụ nữ sau khi chửa đẻ nhiều lần. Bệnh tiến triển mạn tính, không ảnh hưởng đến sinh mạng nhưng gây phiền phức trong cuộc sống sinh hoạt. Y học cổ truyền có nhiều kinh nghiệm điều trị có hiệu quả chứng bệnh này.

Phân loại và phân độ:

Phân loại:

Có nhiều cách phân loại khác nhau, theo cách thông thường hiện nay chia thành 2 loại:

  •  Sa trực tràng không hoàn toàn (sa niêm mạc trực tràng)
  •  Sa trực tràng toàn bộ: tất cả các lớp của trực tràng, thậm chí cả một phần của kết tràng xích ma cũng sa ra ngoài ống hậu môn.

Phân độ:

  •  Sa độ I: niêm mạc trực tràng sa lồi, màu hồng, dài từ 3 – 5 cm, sờ thấy mềm mại, không chảy máu tươi, sau khi đại tiện khó có thể tự co lên được.
  •  Sa độ II: sa lồi toàn bộ lớp trực tràng, dài 5 – 10 cm, hình chóp cụt, màu hồng nhạt, các nếp hình vành khăn, sờ thấy tương đối dầy, hậu môn chùng lỏng, sau khi đại tiện phải đẩy lên.
  •  Sa độ III: sa trực tràng và một bộ phận của kết tràng xich ma sa ra ngoài hậu môn, dài trên 10cm, hình trụ, sờ thấy rất dầy, thăm hậu môn lỏng lẻo, mất sự co thắt tại hậu môn.

 Chẩn đoán phân biệt:

  •  Trĩ nội độ III, IV dạng trĩ vòng kèm theo có sa niêm mạc trực tràng: bệnh sử có đi ngoài ra máu tươi nhỏ giọt hoặc phun thành tia, giữa các búi trĩ đều có ranh giới rõ ràng các búi trĩ thường ứ máu màu đỏ tươi hoặc xanh tím.
  •  Nhú phì đại tăng sinh: thường thấy ở trung niên, do viêm mạn tính kích thích ở hậu môn phát sinh nhú nhì đại. Trường hợp nhú lớn sau đại tiện lòi ra khỏi hậu môn, dạng hình chóp bề mặt là thượng bì màu vàng nhạt hoặc xám nhạt, sờ thấy tương đối chắc, có thể chảy máu.

 Nguyên nhân mắc bệnh

Y học cổ truyền cho rằng bệnh do khí huyết không đầy đủ, tạng phủ hư tổn, táo nhiệt ở đại trường hoặc thấp nhiệt hạ chú, đều dẫn đến khí hư hạ hãm, cân cơ tại chỗ không vững chắc. Trẻ em khí huyết chưa thịnh vượng, phụ nữ khi sinh đẻ rặn nhiều làm tổn hao phần khí;Người già khí huyết hư hao, trung khí không đầy đủ, khí hư hãm xuống, chức năng có nhiếp mất điều khiển…đều có thể dẫn tới phát sinh chứng thoát giang.

Phòng bệnh:

  •  Chủ động điều trị ổn định một số bệnh đường tiêu hóa như: táo bón, lỏng, lỵ và một số bệnh lỵ tại chỗ hậu môn như: trĩ, polyp, viêm ống hậu môn…
  •  Bệnh sa trực tràng giai đoạn đầu: tích cực chữa trị, kiên trì tập luyện tăng cường kiện cho các hệ thống cơ năng hậu môn, điều chỉnh chế độ đại tiện dễ dàng, thông thoát.
  •  Đối với trẻ em, người già, phụ nữ sau đẻ sức khỏe yếu cần tăng cường dinh dưỡng, rèn luyện cơ thể, uống thuốc Bổ trung ích khí từng đợt.

Ý kiến của bạn

*


*