So sánh phẫu thuật Longo và phẫu thuật MILLIGAN – MORGAN

Trĩ là một bệnh lý lành tính thường gặp nhất của vùng hậu môn trực tràng. Ở Việt Nam, tỉ lệ có trĩ trong cộng đồng trên 50 tuổi là 45,39%, tỉ lệ hiện mắc là 18,77%, triệu chứng chủ yếu là sa trĩ (49,5%). Trĩ độ III và IV phải điều trị phẫu thuật . Kỹ thuật Milligan-Morgan đã được thử thách qua thời gian và được sử dụng nhiều nhất. 

So sánh phẫu thuật Longo và phẫu thuật MILLIGAN – MORGAN

Sau phẫu thuật mổ mở, bao gồm nhiều kỹ thuật cắt và cột búi trĩ, bệnh nhân phải chịu đau vài ngày, phải băng vết thương, phải nằm viện vài ngày, và phải nghỉ việc ít nhất 2 đến 3 tuần. Cho nên, bệnh nhân thường lựa chọn cách điều trị bảo tồn đến khi triệu chứng quá nặng, không thể điều trị nội khoa. Trong các phẫu thuật cắt trĩ mới, kỹ thuật treo trĩ theo Longo – Milito bằng stapler có nhiều ưu điểm. Phương pháp này giúp giảm đau sau mổ và sớm làm việc lại . Đây là một kỹ thuật mới, cần có nhiều nghiên cứu để xác định giá trị, và quan trọng hơn nữa là loại trừ các biến chứng về lâu dài. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để so sánh kết quả của phẫu thuật Longo với kỹ thuật cắt trĩ theo Milligan – Morgan (MM) ở bệnh nhân Việt Nam.

Kết quả của nghiên cứu dựa trên 400 bệnh nhân được chia làm 2 nhóm ngẫu nhiên, mỗi nhóm gồm 200 bệnh nhân. Hai nhóm được so sánh về thời gian mổ, thang điểm đau, biến chứng, số ngày nằm viện như sau.

Trĩ độ III và IV có thể điều trị bằng chích xơ, cột dây thun…nhưng điều trị phẫu thuật là hiệu quả nhất. Trở ngại nhiều nhất trong phẫu thuật cắt trĩ là đau sau mỗ, thời gian nằm viện dài, phải băng vùng quanh hậu môn, phải nghĩ làm việc 2 đến 3 tuần. Phẫu thuật Longo loại trừ hết các trở ngại này. Phương pháp này làm giảm sự sa trĩ bằng cách cắt 1 khoanh niêm mạc và dưới niêm mạc ở vùng trực tràng dưới, bên trên các búi trĩ và may lại bằng stapler. Phương pháp này giúp giảm đau hậu phẫu, ít ảnh hưởng chức năng cơ vòng và ít khả năng hẹp hậu môn. Phương pháp này dễ về kỹ thuật, có đường cong học tập ngắn.

Bí tiểu là biến chứng thường gặp nhất, từ 10% đến 14% trong phẫu thuật longo và MM. Tỉ lệ này trong y văn là 20%, gặp ở hầu hết các phẫu thuật vùng hậu môn – trực tràng. Bí tiểu sau mổ có thể liên hệ với nhiều yếu tố bao gồm loại vô cảm, lượng nước vào và đau sau mổ. Dù là nguyên nhân nào, tỉ lệ này tương đương với phẫu thuật mổ mở ở hầu hết các nghiên cứu.

Phương pháp Longo không tác động đến niêm mạc hậu môn bên dưới đường lược, nên rất ít gây đau. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào biến số này, vì giảm đau là mục tiêu đầu tiên khi phát triển phương pháp Longo. Đau sau mổ là nguyên nhân chính khiến bệnh nhân ngại mổ trĩ. Thật ra, việc đánh giá biến số này cũng hết sức tương đối, vì đau là 1 cảm giác chủ quan, tùy thuộc nhiều yếu tố: mức độ tổn thương da hậu môn, mức độ phù nề, viêm nhiễm sau mổ, sự co thắt của cơ vòng, độ cứng của phân, trạng thái tâm lý, độ chịu đựng cảm giác đau …

Bệnh nhân sau mổ trĩ có thể xuất viện ngày hôm sau.

Tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật Longo nằm trong khoảng 6,4% đến 31%. Nhóm Longo trong nghiên cứu này có tỉ lệ biến chứng là 22,5% (19,5% biến chứng gần, 3% biến chứng xa). Nếu chỉ kể các biến chứng liên quan đến phẫu thuật (không kể bí tiểu), tỉ lệ biến chứng là 9% (6% biến chứng gần và 3% biến chứng xa).

Chảy máu ở đường bấm stapler trong lúc mổ xảy ra ở khoảng 10% cho đến 84% bệnh nhân và phải may bổ sung. Do đó, phải quan sát kỹ đường may sau khi bấm. Biến chứng chảy máu hậu phẫu ở 2 nhóm tương đương nhau (5% ở nhóm MM, 3% ở nhóm Longo, khác biệt không có ý nghĩa thống kê). Chảy máu sau mổ cắt trĩ xảy ra từ 2 – 4 %(1,3) . Chảy máu sớm sau mổ có thể do tự thân các búi trĩ nội tiếp tục chảy, hoặc do phẫu thuật (đường bấm stapler…).

Về các yếu tố kết hợp, nhóm Longo có nhiều da thừa hậu môn hơn (17,5% so với 8% ở nhóm MM). Ở vài bệnh nhân trong nhóm Longo, nếu da thừa không rút vào trong ống hậu môn, thường phải được cắt bỏ, vì dễ gây phản cảm sau mổ, và thường không tự teo đi được. Trong hầu hết các trường hợp, phẫu thuật bổ sung này có thể làm tăng mức độ đau sau mổ cho bệnh nhân. Vài tác giả khuyên chỉ nên cắt da thừa khi có triệu chứng (xuất huyết, viêm nhiễm…) hoặc do yêu cầu của bệnh nhân (vệ sinh, thẩm mỹ…)

Nhóm MM có tỉ lệ thuyên tắc nhiều hơn (23,5% so với 4% ở nhóm Longo). Đây có thể là yếu tố làm tăng cảm giác đau sau mổ.

Về biến chứng xa, nhóm Longo có 2,5% trĩ tái phát (từ sau 2 tuần đến 1 năm). Tất cả các trường hợp này đều có sa trĩ ngay sau mổ. Trĩ tái phát là biến chứng trễ thường gặp nhất trong phẫu thuật Longo, và phải mổ lại bằng phương pháp Milligan – Morgan. Y văn chưa có con số chắc chắn về vấn đề này, nhưng có ít nhất 2 nguyên nhân. Trước nhất là lỗi kỹ thuật, không cắt đủ niêm mạc. Thứ hai, lượng niêm mạc sa quá nhiều so với thể tích hộp stapler (stapler case). Đa số, tình trạng này là niêm mạc còn sót hơn là trĩ tái phát. Cuối cùng, phương pháp Longo không trị được trĩ ngoại, nên trĩ ngoại vẫn tồn tại sau phẫu thuật.

Nhóm MM có 1 trường hợp hẹp hậu môn, phải mổ lại. Nhóm Longo có 1 trường hợp mót rặn, kéo dài khoảng 4 tuần.

Các biến chứng hiếm gặp khác được mô tả trong y văn như nhiễm khuẩn sau phúc mạc, dò âm đạo trực tràng, thủng trực tràng, tắc ruột không tìm thấy trong nghiên cứu này. Các biến chứng nguy hiểm này có thể tránh được khi có đủ kinh nghiệm và vượt qua đường cong học tập.

Xem thêm:

Kết luận: Qua kết quả nghiên cứu, phương pháp Longo là phẫu thuật đơn giản, an toàn, hiệu quả trong điều trị trĩ. Đây là kỹ thuật ít xâm hại, rất ít gây đau, cho hiệu quả tương đương với phẫu thuật Milligan – Morgan. Tuy tỉ lệ biến chứng không nhiều, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm để xác định kết quả dài hạn.

Theo PGS Dương Văn Hải

So sánh phẫu thuật Longo và phẫu thuật MILLIGAN – MORGAN

Ý kiến của bạn

*


*