Phương pháp điều trị xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạch của các động mạch lớn và vừa, bao gồm sự tích tụ cục bộ của các chất lipide, các phức hợp glucide, máu và các sản phẩm của máu, mô xơ và các cặn lắng calci, các hiện tượng này kèm theo các thay đổi ở lớp trung mạc.

Phương pháp điều trị xơ vữa động mạch

Trên lâm sàng thường gặp các thể sau:

Xơ vữa động mạch vành:

Trong một khoảng thời gian khá lâu, xơ vữa động mạch không có biểu hiện lâm sàng gì. Bệnh tiến triển âm thầm. giai đoạn này có thể gọi là giai đoạn tiềm lâm sàng, lúc này chỉ có tổn thương xơ vữa ở bản thân mạch vành, chưa gây hậu quả gì đến cơ tim. Sau giai đoạn im lặng không triệu chứng đến giai đoạn bệnh ảnh hưởng đến cơ tim.

Thường có ba thời kỳ: thiếu máu cục bộ và loạn dưỡng, thời kỳ huyết khối hoại tử và thời kỳ xơ. Xơ vữa động mạch có những triệu chứng lâm sàng đặc điểm của từng thời kỳ và nhìn chung có thể phân theo tổ chức y tế thế giới theo 5 nhóm:

  • Cơn đau thắt ngực.
  • Nhồi máu cơ tim.
  • Các thể trung gian (hoại tử ổ nhỏ).
  • Các thể không đau (rối loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền, rối loạn co bóp cơ tim).
  • Xơ cơ tim do xơ vữa động mạch vành (trong đó có túi phình tim).

Xơ vữa động mạch não:

Bệnh cảnh xơ vữa động mạch não thay đổi theo vị trí và giai đoạn của bệnh.

Về đại cương có thể phân ra thành hai loại:

  • Loại có tổn thương ở vỏ não là loại rộng nhất.
  • Loại có tổn thương và chủ yếu ở dưới vỏ não là loại khu trú thành từng ổ.

Hai loại này cũng hay phối hợp với nhau. Loại vỏ não lan tỏa thường gây ra những rối loạn tâm thần. loại dưới vỏ não thành từng ổ thường gây những rối loạn thần kinh. Trong giai đoạn đầu (giai đoạn thiếu máu cục bộ) các triệu chứng vỏ não và dưới não thường thường nhẹ và không thường xuyên. Ở giai đoạn sau (giai đoạn huyết khối hoại tử) đã có những rối loạn cấp tính như đột quỵ. Cuối cùng não thu teo, xơ hóa, các rối loạn sẽ không phục hồi nữa.

Xơ vững động mạch chủ:

Xơ vữa động mạch chủ ít có triệu chứng chủ quan. Đôi khi có đau với các đặc điểm: cảm giác nặng tức ở sau xương ức, lan ra chi trên, cổ và phần trên của bụng, không có tính chất cơn rõ rệt, kéo dài hàng giờ, hay kèm theo dị cảm. trong xơ vữa động mạch chủ đôi khi sờ có thể nghe thấy đập mạnh ở người gầy, có cảm giác động mạch cứng ngoằn nghèo, làm lầm tưởng khối u.

Xơ vữa động mạch lớn xuất phát từ động mạch chủ:

Xơ vữa động mạch cảnh có thể gây nên rối loạn tuần hoàn não như: chóng mặt, nhức đầu, dị cảm do thiếu máu cục bộ. Xơ vữa vùng xoang động mạch cảnh có thể gây nên tam chứng: nhịp chậm, hạ huyết áp, ngất. Xơ vữa động mạch thận có thể được phát hiện bằng chụp cản quang động mạch thận và thường gây tăng huyết áp. Xơ vữa động mạch ở bụng khó phát hiện hơn, thường thì thấy trướng bụng, táo bón, nhưng khi bị tắc sẽ gây hoại tử ruột.

Xơ vữa động mạch chi:

Nếu ở giai đoạn thiếu máu cục bộ, ngoài nguyên nhân hẹp động mạch do xơ vữa còn có vai trò của co thắt thành động mạch biểu hiện dưới dạng cơn đau cách hồi. Ngoài cơn, da thường lạnh, mạch yếu hoặc mất dần. Ở giai đoạn huyết khối hoại tử, biểu hiện chủ yếu là hoại tử ở chi (hoại tử khô) dẫn đến rụng một phần chi. Trong một số trường hợp, tổn thương có thể thành sẹo và chi bị teo.

Phòng và điều trị xơ vữa động mạch

Biện pháp chung: Hạn chế và loại trừ các điều kiện gây căng thẳng, chú trọng đặc biệt đến việc rèn luyện tinh thần trước những hoàn cảnh bất lợi để giữ được sự thăng bằng trong hệ thần kinh. Luyện tập thân thể, chế độ sinh họat điều độ. Đảm bảo giấc ngủ, tránh những tiếng động không cần thiết. hạn chế mỡ động vật, số lượng calo, hạn chế muối nếu có tăng huyết áp. Dùng nhiều rau quả tươi có vitamin.

Phương pháp điều trị xơ vữa động mạch

Luyện tập thường xuyên, tinh thần thoải mái, dinh dưỡng hợp lý.

Thuốc: Thuốc tác động trên tăng lipoprotein huyết tương. Thường dùng clorophenoxyisobutyratéthy (CPIB). Biệt dược Clofibrat.

Các thuốc khác:

  • Pyridinolcarbamat (biệt dược Anginin, Angioxine, Prodectine). Thuốc hạn chế tổn thương thành mạch chứ không nhằm hạ lipid. Còn có tác dụng chống hình thành huyết khối.
  • Protelipan chứa nhiều yếu tố cơ bản điều hòa lipid – protein nguồn gốc động tụy tạng.
  • Vitamin B5 – B6 – vitamin F.
  • Thuốc chống ngưng kết tiểu cầu.

Ngoại khoa:

  • Nong động mạch ép khối vữa xơ.
  • Tác động trên hệ thần kinh làm giãn lòng các động mạch xơ vữa.
  • Tái lập tuần hoàn ở những vùng bị thiếu máu. Thường dùng là bắc cầu nối động mạch chủ với động mạch vành.
  • Loại trừ bộ phận hoại tử do tắc mạch nhất là hoại tử chi, ruột.

Ý kiến của bạn

*


*

Đọc bài viết trước
Tổng quan về xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một trong những bệnh đáng chú ý nhất hiện nay ở đối tượng người cao...

Đóng