Triệu chứng bệnh viêm tắc động mạch

Viêm tắc động mạch là một bệnh xuất hiện ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Bệnh cũng thường xuất hiện ở những chi dưới nhiều hơn là chi trên động mạch vành hay ruột.

Triệu chứng bệnh viêm tắc động mạch

Hình mô tả động mạch bị tắc

Một số triệu chứng thường gặp ở người viêm tắc động mạch: người bệnh thường có cảm giác lạnh và dị cảm như tê bì, kiến bò… ở chi bị tổn thương. Khi hoạt động chóng mỏi và giảm khả năng vận động của chi. Đối với chi dưới bị tổn thương sẽ có dấu hiệu “đi cách hồi”: bệnh nhân đi được một đoạn đường, xuất hiện đau dữ dội và co rút cơ ở bắp chân nên phải dừng lại để nghỉ; nghỉ vài phút hết đau lại có thể đi tiếp; nhưng chỉ đi tiếp được một quãng đường ngắn hơn đoạn trước thì lại xuất hiện các triệu chứng trên và bệnh nhân lại phải dừng lại để nghỉ; quãng đường đi được giữa các lần nghỉ ngày càng ngắn lại, còn thời gian phải nghỉ để đỡ đau ngày càng dài ra. Khám thấy da của chi bị tổn thương màu tái nhợt hoặc xen kẽ các chỗ tái nhợt với da bình thường.

Nếu bệnh nhân để thõng chân xuống (để máu dồn xuống chân nhiều hơn) thì thấy da đỡ tái nhợt và hồng lên. Làm nghiệm pháp gẫp duỗi cổ chân: bệnh nhân nằm sấp, gấp duỗi khớp cổ chân vài lần thì sẽ thấy chỉ trong vài giây bàn chân của bệnh nhân sẽ trở nên tái nhợt; khi bệnh nhân đứng dậy nếu trong 10 giây màu da bàn chân không trở lại bình thường thì chứng tỏ có tổn thương viêm tắc động mạch chi dưới. Nếu bệnh nhân ngồi trên giường hay trên ghế buông thõng chân xuống, theo dõi thời gian các tĩnh mạch mu chân đầy trở lại: bình thường các tĩnh mạch này đầy trở lại trong vòng 7 giây, nếu thời gian dài hơn chứng tỏ có thể có viêm tắc động mạch. Bắt mạch chày sau và mạch mu chân, so sánh mạch ở hai chân thấy mạch yếu hoặc mất. Rối loạn tiết mồ hôi: da ở chi bị viêm tắc động mạch thường khô, teo. Lông chân thưa, rụng. Các cơ bị teo, nhẽo. Xương chi bị xốp do loãng xương. Loét và hoại tử đầu chi thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh, cảm giác đau ở chi tăng lên và liên tục, xuất hiện các vết loét ở đầu ngón chân và mu bàn chân, toàn trạng bệnh nhân suy sụp do nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng.

Các xét nghiệm: đo dao động động mạch xác định được mức độ giảm biên độ dao động của động mạch bị viêm tắc ở chi tổn thương. Soi mao mạch: thấy giảm số lượng và đường kính các mao mạch ở vùng tổn thương, tốc độ di chuyển của hồng cầu trong mao mạch cũng bị giảm. Đo nhiệt độ da: thấy nhiệt độ da của chi bị tổn thương bị giảm đi rõ rệt so với bên lành. Siêu âm: thấy thành động mạch dày lên, có các cục nghẽn mạch… Chụp động mạch cản quang xác định được hình dạng và mức độ co thắt của các động mạch bị viêm tắc, hình các cục nghẽn mạch… Chụp cắt lớp và cộng hưởng từ xác định được các tổn thương viêm tắc động mạch.

Viêm tắc động mạchcần phân biệt với một số bệnh: hoại tử đầu chi trong bệnh đái tháo đường: không có dấu hiệu “đi cách hồi”, vị trí bị hoại tử thường ở gan bàn chân, gót chân, xét nghiệm thấy đường máu tăng, có đường trong nước tiểu. Bệnh xơ vữa động mạch: tổn thương động mạch của toàn thân chứ không riêng chi dưới như bệnh viêm tắc động mạch, có hoại tử vùng chi do xơ vữa động mạch nhưng thường xuất hiện ở người già, có tăng huyết áp, cholesterol máu cao… Bệnh Raynaud: hay gặp ở nữ giới, trẻ tuổi, tiến triển thành từng đợt, tổn thương chủ yếu là ở đầu chi và đối xứng cả hai bên.

Ý kiến của bạn

*


*

Đọc bài viết trước
Điều trị bệnh trĩ bằng phương pháp thắt búi trĩ

Em bị táo bón kinh niên. Giờ mỗi khi đại tiện búi trĩ vòng quanh hậu môn rất khó khăn....

Đóng