Viêm gan mãn tính do virus

Hầu như chỉ có virut viêm gan B, C và D mới gây viêm gan mãn tính. Viêm gan mãn tính là trạng thái viêm nhiễm tế bào gan kéo dài trên 6 tháng (hoặc trên 12 tháng, theo một số tác giả) với các biểu hiện bệnh lý cả về lâm sàng, sinh hoá và giải phẫu bệnh.

Viêm gan mãn tính do virus

1.Viêm gan B mãn tính

Khả năng xuất hiện viêm gan B mãn tính sau khi nhiễm virut viêm gan B thay đổi theo lứa tuổi. Trẻ nhiễm virut viêm gan B sau đẻ thường không có biểu hiện triệu chứng nhýng 90% sẽ trở thành người mang virut mạn tính. Trẻ lớn và những người lớn khi nhiễm virut viêm gan B lại thường có biểu hiện lâm sàng rõ rệt của viêm gan cấp nhưng nguy cơ thành mạn chỉ khoảng 1%. Tuy vậy, viêm gan B mãn tính có thể xuất hiện ở bệnh nhân chưa có viêm gan B cấp.

  • Mức độ của viêm gan B mãn tính : rất khác nhau từ nhẹ đến nặng. Đánh giá mức độ của viêm gan B mãn tính người ta cũng căn cứ vào mô bệnh học, nhưng quan trọng hơn là dựa vào mức độ nhân lên của virut viêm gan B ( HBV ). Trong giai đoạn nhân lên mạnh của HBV ( HBeAg + , HBV – DNA +, HBcAg+ trong tế bào gan ) thì mức độ nặng hõn. Ngược lại trong giai đoạn không nhân lên của HBV ( HBeAg – , anti – HBe + , HBcAg – trong tế bào gan ) thì viêm gan B mãn tính nhẹ hoặc chỉ là mang HBV không triệu chứng.
  • Tiến triển : nhiễm HBV mạn, đặc biệt là mắc từ khi sinh sẽ tăng nguy cơ dẫn đến ung thư tế bào gan. viêm gan B mãn tính hoạt động thì nhiều khả năng tiến triển đến xơ gan .

2. Viêm gan D mãn tính

Kể cả đồng nhiễm virut viêm gan D ( HDV ) với virut viêm gan B ( HBV ) hoặc bội nhiễm HDV trên bệnh nhân HBV đều có thể dẫn tới viêm gan mạn. Nhưng khi đồng nhiễm thường làm nặng thêm viêm gan cấp và dễ thành viêm gan ác tính, bội nhiễm HDV trên người mang HBsAg mạn tính làm tăng khả năng tiến triển thành viêm gan mạn.

  • Biểu hiện lâm sàng của viêm gan D mãn tính hay viêm gan B mãn tính không phân biệt được hay nói khác đi là viêm gan D mãn tính cũng có biểu hiện lâm sàng như viêm gan B mãn tính.
  • Đặc điểm huyết thanh học của viêm gan D mãn tính là có sự hiện diện của kháng thể anti – LKM ( Liver Kidney Microsomes – kháng thể kháng Microsome của gan, thận ) lưu hành trong máu. ở bệnh nhân viêm gan D mãn tính có anti – LKM-3, khác với anti – LKM-1 có ở bệnh nhân viêm gan mạn tự miễn và viêm gan C mãn tính.

3. Viêm gan C mãn tính

Là viêm gan mạn tiến triển thầm lặng, nhiều trường hợp không hề có triệu chứng và ngay cả men Transaminase cũng bình thường. Chẩn đoán những trường hợp này chủ yếu dựa vào sinh thiết gan.

  • Biểu hiện lâm sàng : viêm gan C mãn tính cũng giống như viêm gan B mãn tính nhưng nói chung triệu chứng mờ nhạt hơn, hiếm gặp vàng da, tổn thường ngoài gan ít hơn, men Transaminase dao động và thấp hơn. Triệu chứng thường thấy là mệt mỏi, xét nghiệm huyết thanh học một số trường hợp có thể thấy sự có mặt của kháng thể anti – LKM-1 như ở bệnh nhân viêm gan tự miễn Typ 2.
  • Về tiến triển : Có 50 – 70% số ca viêm gan C mãn tính tiến triển sau viêm gan C cấp, tiến triển tới xơ gan sau 10 năm là 20%. Khoảng 50% bệnh nhân viêm gan C mãn tính sẽ thành xơ gan kể cả những bệnh nhân viêm gan C mãn tính không có triệu chứng và không có men Transminase tăng. Nhưng đáng chú ý là những bệnh nhân nhiễm HCV – RNA với nồng độ cao và thời gian nhiễm lâu. viêm gan C mãn tính tiến triển tới xơ gan và ung thư tế bào gan nhưng thường là rất chậm sau vài năm.

Ý kiến của bạn

*


*

Đọc bài viết trước
Nguyên nhân gây viêm gan mãn tính

Viêm gan mãn tính là một trong những hình thái bệnh lý thường gặp ở gan tiến triển của viêm gan mãn...

Đóng